SUY TƯ VỀ V THƯỜNG V CI CHẾT

 

Matthieu Ricard bin dịch

(Hoang Phong chuyển ngữ)

 

Ci chết khng nấn n để chờ xem những g ta đ lm v những g

Ta sẽ cn phải lm. Tịch Thin (Shantideva)

 

 

 

Lời dịch giả: Thng 10 năm 2010 vừa qua, nh xuất bản Nil vừa pht hnh một quyển sch rất cng phu dầy hơn 400 trang của nh sư người Php, Matthieu Ricard, gp nhặt những đoạn hay nhất trong kinh sch Ty tạng m ng c dịp chuyển ngữ từ vi chục năm nay. Dưới đy l bản dịch một chương ngắn lin quan đến v thường v ci chết. Sch mang tựa đề l "Những con đường tm linh, tuyển tập nhỏ về những đoản văn xuất sắc nhất của kinh sch Ty tạng" (Chemin spirituels, Petite anthologie des plus beaux textes tibtains).

 

                 

 

 

Mỗi giy pht trong cuộc sống đều tượng trưng cho một gi trị v bin. Thế nhưng chng ta lại cứ để cho thời gian tri đi như những hạt ct vng lọt qua kẻ hở của bn tay. Chẳng c g đng buồn hơn khi thấy đi bn tay trắng vo cuối đời mnh. Hy thức sự qu bu của từng giy pht trong cuộc sống. Nn sử dụng những giy pht ấy một cch hữu hiệu hầu mang lại sự tốt lnh cho ta v cho người khc. Trước hết phải xa bỏ mọi ảo gic khiến ta tin rằng "cn cả một cuộc đời trước mặt". Sự sống của ta tri đi như một giấc mơ, một lc no đ n sẽ dừng lại m ta khng hề hay biết. Khng nn nấn n hy sử dụng những giy pht cn lại một cch thiết thật nhất để khỏi hối hận khi la đời. Tu tập để pht huy những phẩm tnh nội tm khng bao giờ l một việc qu sớm.

Bản chất ph du của mọi hiện tượng được thể hiện dưới hai dạng khc nhau : thứ nhất l v thường th thiển - chẳng hạn như ma mng đổi thay, ni non sụp lở, thn xc gi nua, xc cảm trồi sụt - thứ hai l v thường tinh tế, pht hiện trong từng đơn vị nhỏ b nhất của thời gian. Trong từng khoảnh khắc cực vi tất cả những g d bề ngoi c vẻ bền vững th thực ra cũng đều khng trnh khỏi sự đổi thay. Phật gio xem thể dạng v thường tinh tế tương tợ như một giấc mơ, một ảo ảnh, một dng lưu chuyển v tận khng thể nắm bắt được.

Người tu tập phải thường xuyn ghi nhớ trong tm tr mnh nghĩ về ci chết, tuy nhin khng phải v thế m người ấy phải buồn khổ v u sầu, tri lại nghĩ ấy lun nhắc nhở họ khng nn ph phạm những giy pht trong cuộc sống ny m hy sử dụng chng để biến cải nội tm mnh, đng như những g m mnh mong ước. Ta thường c xu hướng tự nhủ : "Ti phải thanh ton cho xong cc cng việc đang chờ đợi v hon tất cc dự n dở dang, sau đ mới mở mắt ra được để lo đến đời sống tm linh." Tuy nhin đấy chỉ l một cch nguy hại nhất để tự đnh lừa mnh ci chết l một chuyện hiển nhin, chỉ c điều l ta khng thể biết trước n sẽ đến lc no v trong bối cảnh no. Trong cuộc sống thường nhật, d trong cảnh huống no chẳng hạn như đang đi, đang ăn hay đang ngủ... tất cả đều c thể bất thần biến thnh nguyn nhn đưa đến ci chết. Đấy l những g m người tu tập chn chnh phải lun ghi nhớ. Ở Ty tạng, cc nh tu ẩn dật khi nhm bếp lc tinh sương đều tự nhắc nhở lấy mnh l biết đu sng mai mnh sẽ khng cn ngồi đy để nhm thm một bếp lửa mới. Sau mỗi hơi thở ra họ đều nghĩ rằng mnh vẫn cn may mắn để ht vo một hơi thở mới. nghĩ về ci chết v v thường l động cơ khch lệ họ ch tm hơn vo việc tu tập hằng ngy.

 

 

LONG THỤ (NAGARJUNA - Thế kỷ thứ I) (1)

 

Ngọn gi của mun ngn khổ đau thổi tạt

Ln cuộc sống mong manh như bọt nước ny.

Kỳ diệu thay, sau một giấc ngủ di,

Ta thức dậy trong khoan khoi để được ht vo v lại thở ra.

 

 

LIN  HOA  SINH (PADMASAMBHAVA, thế kỷ VIII - IX) (2)

 

Như một dng thc đổ vo biển khơi,

Như mặt trời, mặt trăng lặn xuống sau những rặng ni xa,

Ngy v đm, giờ v pht, tất cả qua mau,

Cuộc sống con người tri đi khng ko lại được.

 

 

DILGO  KHYENTS  RINPOCH (1910 - 1991) (3)

 

Như lượng dầu trong chiếc đn lun vơi dần, mọi sự trn thế gian mỗi lc một gần hơn với hồi chung cuộc. Thật v cng ngy thơ khi nghĩ rằng c thể hon tất cc cng việc dở dang v sau đ sẽ dnh qung đời cn lại của mnh để tu tập Đạo Php. C chắc l ta cn sống đến lc ấy hay khng? Ci chết c thể đến bất cứ lc no khng phn biệt l gi trẻ lớn b! D đang lm g th ta cũng nn nhớ l mnh sẽ chết v lun tự nhắc nhở mnh về điều ny trn Đường tu tập [...] Một kẻ tội phạm bị truy n khng c một giy pht no được yn tm; lc no y cũng lo sợ, phải nghĩ ra trăm ngn kế để trốn trnh sự trừng phạt. Chắc chắn ta sẽ khng thấy người ấy mải m phc họa sơ đồ để thiết kế một căn nh mới cho mnh. Lm thế no ta c thể lơ l khi ci chết đang rnh rập trong từng giy pht? Vậy chỉ cn cch tu tập Đạo Php ngay từ giờ pht ny, hầu gip ta biến ci chết thnh một người bạn. [...]

Tất cả mọi thứ đều c hạn kỳ. Người nng dn hiểu r điều ny, họ canh chừng để biết lc no cần phải cy, phải gieo hay phải gặt, họ chuẩn bị mọi thứ khi cần đến. Trong lc ta đang hội đủ mọi điều kiện thuận lợi v gặp được một vị thầy chn chnh chỉ dạy, chẳng lẽ ta lại bỏ hoang cnh đồng giải thot của mnh?

Cc kiếp sống tương lai đang chờ đợi ta một con đường thật di ci chết chỉ l một ngưỡng cửa phải bước qua. Ta sẽ bước một mnh qua ci ngưỡng cửa ấy, họa may sự tu tập v lng tin tưởng nơi vị thầy của mnh l những g duy nhất c thể gip ta trước ngưỡng cửa đ. Cha mẹ, bạn hữu, uy quyền, của cải v những g ta thường coi trọng đều phải bỏ lại.

Nếu cứ để cho cng việc lặt vặt lm mất hết th giờ đến khi hấp hối ta sẽ hối tiếc v sợ hi sẽ xm chiếm lấy mnh, tương tợ như một tn trộm bị nhốt vo ngục v tự hỏi số phận mnh sẽ ra sao. Mật-lặc-nhật-ba (Milarpa) c ni với người thợ săn Gonpo Dordj như thế ny : "Hy đặt lng tn knh vững chắc vo Thầy mnh v Tam Bảo d cho phải mất tất cả, nhưng ngươi sẽ sống v sẽ chết trong an bnh v lng trn ngập hn hoan".

 

 

LIN HOA SINH  (PADMASAMBHAVA, thế kỷ thứ VIII - IX) (4)

 

Sự sống tri nhanh như những đm my ma thu ;

Cha mẹ, bạn b như những người [bng quang] đứng nhn hng ha [trong một ngy họp chợ ;

Thần chết đang ln lt rnh rập như chiếc bng xế buổi hong hn.

Thế giới bn kia [đối với chng ta] như một con c trong suốt đang bơi [trong dng nước đục];

Thế giới như một giấc mơ hiện đến trong giấc ngủ tối qua ;

Th vui gic cảm th cũng như một ngy lễ hội ph du ;

Sinh hoạt thường nhật khng khc những gợn sng v tch sự,

Đang x đẩy nhau trn mặt nước.

 

 

DILGO  KHYENTS  RINPOCH  (1910 -1991) (5)

         

Xun đến cc hạt giống nẩy mầm. H sang cc cy non vươn ln, trổ l v đơm hoa. Sang thu hoa mầu chn rộ, ma gặt hi bắt đầu. Đng về lại xới đất để chờ xun năm sau. Từng thng con trăng ln cao v khuất đi, từng ngy mặt trời mọc rồi lại lặn mất, tất cả biến đổi khng ngừng. Chiều tối, rộn r tiếng ca v điệu nhảy của hng nghn quan khch ; hừng đng, hoang vắng v yn lặng. Sau những pht ngắn ngủi của một đm lễ hội, những kẻ trc tng đến gần hơn một cht với giy pht lm chung...

 

 

SHECHEN  GYALTSAP (1871 - 1926) (6)

 

Giữa những đm my ảo gic v ph du,

Lấp le một tia chớp của sự sống ny.

Bạn c tin rằng mnh cn sống đến ngy mai?

Hy tu tập Đạo Php ngay trong lc ny đi!

 

 

GOUNTHANG  TENPAI  DRNM (1762 - 1823) (7)

 

Trong dng nước xanh biếc đang nhảy ma,

Giữa tiếng r ro bất tận của những ln sng vỗ,

Vang ln tiếng ku cứu của một người con gi.

Đến khi no nng sẽ bị đng cứng trong băng gi của ma đng ?

 

Những cnh đồng lấp lnh đầy hoa, vang ln tiếng ong rộn r,

Chẳng mấy chốc sẽ t buốt trong băng gi của buổi sng ma thu,

Để rồi trở thnh hoang vắng như những bng ma,

Rn siết v lo sợ trước những cơn mưa đ dập dồn. 

 

Hai con chuột, một trắng một đen - ngy v đm -

Lun phin gặm nhấm những cọng rơm của sự hiện hữu ny.

Trong mỗi khoảnh khắc ta bước thm từng bước,

Để đến gần hơn với kẻ th l ci chết.

 

Ka một cụ gi đang khc đứa con ra đi,

Thn cụ run ln v cng xuống.

Mi tc bạc phơ xoắn lại như một chiếc vỏ s.

No c ai bảo những người gi đi trước ?

 

 

TENNYI  LINGPA (1480 - 1535) (8)

 

Suy tư về V thường

Hy tưởng tượng bỗng thấy mnh trơ trọi trong một nơi xa lạ, chẳng biết từ đu đến v cũng chẳng biết mnh phải đi đu. Ta lạc vo một thung lũng thật buồn thảm hướng về phương bắc, mặt đất đen x rải rc những di tch đổ nt mu gạch đỏ, khng một bng người, từ xa vọng lại tiếng ầm ầm của thc đổ từ cc vch đ của những ngọn ni m u. Cc tảng đ sụp lở lăn xuống ph vỡ cả triền ni cao, gi rt trong cỏ dại, một đn c th đang tranh nhau cấu x một xc chết. Tiếng sủa ăng ẳng của ch rừng ha lẫn với tiếc oang oc của lũ quạ v tiếng ku than của loi chim c. Đỉnh ni giống như những lưỡi nhọn đm thủng cả bầu trời, gi h, mặt trời lặn xuống sau rặng ni, bng tối dầy đặc tỏa rộng khắp nơi.

Lạc lng, khng bạn đồng hnh, ti chẳng biết mnh đang ở đu v phải đi về đu. V cng thất vọng ti chỉ biết than vn một mnh : "Thật thảm thương, ti đang ở đu thế ny? Con ci ti đu rồi? Cha mẹ ti? Của cải ti? Xứ sở ti? Thật v cng kinh hong!"

Ti hoang mang muốn bước đi, nhưng vừa nhấc chn ln đ vấp t v ng lăn xuống một vực su. Đang khi rơi ti bỗng nắm được một bụi cỏ mọc trn một ghềnh đ cheo leo. Ti nắm chặt chm cỏ, tuyệt vọng v lơ lửng trong khng trung. Nhn xuống, hun ht khng thấy đy vực đu cả, nhn ln vch đ phẳng l như một tấm gương vt ln tận trời xanh. Gi rt bn tai. Bỗng nhin pha bn phải của bụi cỏ từ một kẻ hở trong phiến đ c một con chuột trắng chui ra cắn một cọng cỏ v tha vo hang. Bn tri bụi cỏ lại xuất hiện một con chuột đen cắn một cọng cỏ v tha vo một hang khc. Cả hai con thay nhau cắn từng cọng cỏ mang đi, bụi cỏ thưa dần, (hai con chuột một trắng v một đen tượng trưng cho ngy v đm đang lm cho cuộc sống của ta ngắn lại).  

Khng c cch no đuổi hai con chuột, ti kinh hong nghĩ đến ci chết gần kề : "Thế l giy pht cuối cng đ đến". Chung quanh chẳng c bng dng một ai cho ti cầu cứu. "Trước đy ti khng hề nghĩ đến ti sẽ chết v khng hề ch tm vo việc tu tập Đạo Php. Ti khng nghĩ phải gip mặt với ci chết sớm như vậy, thế nhưng n lại đang hiện diện trước mặt. Ti sẽ khng cn nhn thấy cc con ti, bạn hữu ti, của cải v qu hương ti. Trước đy ti chỉ biết gom gp của cải v khng hề quan tm đến những g tốt đẹp hơn, để rồi giờ đy ti phải bỏ lại tất cả để đơn độc lạc vo một nơi m ti khng biết đấy l đu. Thật kinh hong! Lm thế no để thot khỏi số phận thảm thương ny? Cn c một cht may mắn no gip ti ra thot hay chăng?"

Bỗng nhin Thầy ti hiện ra trn bầu trời, mang su mn trang sức bằng xương, ngồi trn ta sen cạnh một vầng trăng, đang lắc chung v đnh vo một ci trống nhỏ (đấy l cc biểu tượng m người Thầy muốn gợi lại cho người đệ tử: hoa sen tượng trưng cho cuộc sống thế tục nhưng vẫn giữ được sự thanh cao, mặt trăng tượng trưng cho lng từ bi, su mn trang sức bằng xương tượng trưng cho su phẩm hạnh siu nhin, chung nhỏ tượng trưng cho tr tuệ, ci trống tượng trưng cho Đại Phc hạnh). Thầy ti ma một cch thật oai nghi trong khng trung v ni với ti:

"Bất hạnh thay! Hiện tượng v thường đang lm con biến mất. Ma mng tri nhanh, tất cả mọi người d bạn hay th đều gi nua v phải chết. Tuổi trẻ cũng tn phế theo từng thng, từng ngy. Khng c cch no để đẩy xa ci chết, tuy nhin nếu con nghĩ rằng cn c thể ra thot th hy nhn vo cảnh huống của con trong lc ny v tức khắc khng được chậm trễ hy ch tm nghe thầy dặn bảo với tất cả sự tn knh."

Khi nghe những lời ni ấy ti tht ln: "Tiếc thay! con đang đứng trước ngưỡng cửa ci chết v rất hối hận v trước kia con khng chuyn cần tu tập để biến cải tm thức mnh. D phải chết hay được sống cn, con xin đặt số phận con vo tay Thầy v Tam Bảo. Xin Thầy v Tam Bảo trn đầy lng từ bi hy giải thot cho con khỏi vực thẳm v chu kỳ hiện hữu ! Thầy l hiện thn của Tam bảo, con xin đặt số phận con trong tay Thầy!"

Khi những lời cầu khẩn xuất pht từ nơi su thẳm của đy lng ta hướng vo vị Thầy th một tia sng cũng pht ra từ tim của vị Thầy rọi thẳng vo tim ta đng vo lc m chm cỏ đang treo lơ lửng sinh mạng mnh sắp đứt hết . Tia sng ko ta ra khỏi vực thẳm v đưa ta vo mảnh đất tinh khiết của Đại Phc Hạnh. V lượng tia sng khc sẽ pht ra từ tim ta để tiếp dẫn chng sinh trong ba ci của thế giới ta-b, khng bỏ st một chng sinh no, tất cả đều cng ta bước vo mảnh đất tinh khiết của Đại Phc Hạnh. Hy suy tư như thế để pht huy lng từ bi cực mạnh.

         

 

ĐỨC PHẬT THCH-CA MU-NI  (Thế kỷ thứ V trước Ty lịch) (9)

 

Như một v sao băng, một ảo ảnh hay một đốm lửa,

Một ảo gic, một giọt sương mai hay một bọt nước,

Một giấc mơ, một tia chớp hay một ln my,

Hy nhn mọi sự vật cấu hợp giống như thế.

 

 

ĐẠT-LAI  LẠT-MA  THỨ VII, KELZANG  GYATSO (1708 - 1757) (10)

 

Đến lc phải đặt xuống

Trước ngưỡng cửa ci chết, gnh nặng của kiếp người,

Chẳng c ai mang theo được cha mẹ, bạn hữu,

Ti tớ v của cải của mnh.

Thương thay cho một tm thức cn bị n lệ bởi sự bm vu.

Hy chặt đứt hết cc mối rng buộc ấy đi!

 

 

GOTRAKPA (1170 - 1249) (11)

 

Thn xc, v thường như sương sớm một ngy xun;

Tm thức, phi vật chất như bầu trời trống rỗng;

Tư duy, tan nhanh như một cơn gi thoảng;

Lc no ta cũng nn suy tư về ba điều ấy!

 

 

GAMPOSA (1079 - 1153) (12)

 

Bước đầu ta phải khiếp sợ sự sinh v ci chết, như một con hươu vừa thot bẫy. Giữa đường, ta khng nn hối tiếc bất cứ điều g d đấy l ci chết của mnh, giản dị như người nng dn vừa lm xong cng việc đồng ng. Bước vo đoạn cuối của con đường, ta hy hn hoan như một người vừa hon tất một cng việc thật bao la [...]

Cần nhất phải hiểu rằng khng được chậm trễ, phải khẩn cấp như ta vừa bị một mũi tn đm trng vo một chỗ nhược trn thn mnh.

 

 

MẬT-LẶC-NHẬT-BA (MILARPA, 1040 - 1123) (13)

 

Khiếp sợ trước ci chết, ti đi vo cc vng ni non,

Ra sức thiền định về sự bất định của n.

Chinh phạt được thnh tr bất tử của sự trường tồn,

Giờ đy ti khng cn lo sợ ci chết nữa!

 

JIGM  LINPA (1729 - 1798) (14)

 

Những ai từng bị ci nng của ma h hnh hạ,

Đang nhn nh dưới nh trăng vằng vặc của ma thu.

Họ khng c vẻ g khiếp sợ,

Chẳng qua v khng hề nghĩ đến,

Kiếp sống của họ đ bớt một trăm ngy*.

 

         (một trăm ngy l thời gian giữa ma h v ma thu)

 

 

PATRUL  RINPOCH (1808 - 1887) (15)

 

Bất hạnh thay cho chng ta cn vướng mắc trong ảo gic,

Cn xem thế giới khổ đau ny l thật v trường tồn!

Trước lng tốt v bin của vị Thầy,

Chng ta cầu mong nhận được phc lnh để sống tốt đẹp như một lời giảng huấn!

Sinh ra đời, chng ta lăn xả vo con đường đang mở rộng,

N hướng chng ta vo một ngưỡng cửa chật hẹp, nơi Thần Chết đứng chờ,

Thịnh nộ v bất trị, Hắn vung con dao di v giật chiếc dy thng lọng đen [ku ln đồm độp],

Hắn nhn bằng cặp mắt lm lạnh tot cả người.

Như thế đ chng ta từ gi ci người,

Thế nhưng trước đy chng ta chẳng bao giờ nghĩ đến.

Cất giữ trong bao những hạt giống mu trắng,

Chng ta đem gieo v chờ đến ma gặt hi.

L những người nng dn chng ta no biết cuộc sống sẽ chấm dứt lc no,

Biết đu chng ta sẽ khng cn đ,

Để nng chn rượu trong ma gặt mới ?

nghĩ về ci chết chẳng bao giờ hiện ln trong đầu những con g trống trẻ !

Nếu c những g khc biệt giữa con người v một thy ma,

Th đấy cũng chỉ l một sợi chỉ mnh buộc vo một hơi thở ngắn.

Thật nhẹ nhng tm linh rời bỏ thn xc một thanh nin hấp hối,

Thế nhưng người ta cứ bảo đấy l một sự đau buồn v khiếp sợ qu nặng nề.

Thế cn bạn, đang lc trẻ trung v tươi mt, ngực o ci hoa v mang đầy trang sức.

C khi no bạn nghĩ đến lc đầu bạc v gi nua?

Lm thế no c thể che dấu được những tn ph m thầm của thời gian.

Bạn lm g được no ? Gi nua đi khi cn tn c hơn cả ci chết !

Thn xc ny, từng được chăm sc cẩn thận chỉ l kho chất chứa đủ mọi khổ đau.

Khng bo trước, nghịch cảnh ging xuống bằng những mũi tn thật bn nhọn,

Những mũi tn của bệnh tật cắt đứt mối lin hệ giữa tm linh v thn xc,

Biến chng ta thnh lễ vật hiến dng cho Thần Chết.

Xc chết nằm kia khiến mọi người sợ hi v lnh xa,

Thật ra cũng khng khc g với xc chết của bạn một ngy no đ !

 

Xin vị Thầy nhn từ hy nhn xuống,

Những khổ đau m chng ta đang gnh chịu.

Bất lực khng đủ sức nhổ bỏ cội rễ của sai lầm,

Chng ta bị lừa bịp từ kiếp ny sang kiếp khc,

Để phải cuồng quay trong chu kỳ hiện hữu của ci ta-b.

Cầu mong chng ta tm thấy hạnh phc,

V tho gỡ được cc khc mắc của những ảo gic ny!

 

Cuộc gặp gỡ giữa Patrul Rinpoch v Tcheuying Rangdrol (16)

(Patrul Rinpoch l tc giả bi thơ trn đy)

 

Một hm nh sư ẩn dật v phiu bạt Patrul Rinpoch cng với một người bạn l Pma Dorj đến viếng ngi cha Kathok. Họ men theo con đường mn bn bờ Hồ Đen, vượt qua cc băng h trn dy ni Thromgo. Sau cng họ tro ln được ngọn Ni Thing, ngọn ni c một triền dốc thẳng băng gọi l Nữ Hong của cc Vch đ Hung c.

Triền ni ny l nơi ẩn dật của một vị đại thiền sư tn l Tcheuying Rangdrol. Tcheuying Randrol sống ẩn dật gần như suốt đời mnh. Tuy khng được học hnh cao siu nhưng đ thấu triệt được con đường thiền định của Đại Phc Hạnh. Quần o vỏn vẹn một tấm da cừu khoc ngoi đ cũ v mn nhẵn, bn trong l một manh o mong manh m cổ o lại khu ngược ra ngoi. ng chưa bao giờ đi đu cả, ngy ngy chỉ ngồi yn trn một manh chiếu để lắng su vo thiền định.

Patrul Rinpoch v Pma Dorj tro đến nơi v gặp Tcheuying Randrol đang thiền định. Patrul Rinpoch phủ phục xuống đất v lạy Tcheuying Randrol ba lạy, sau đ ng xin Tcheuying Randrol giảng dạy cho mnh gio l về Bản thể của Khng gian Rạng rỡ, theo đng truyền thống của dng truyền thụ tm linh thuộc cc vị tổ trụ tr của cha Kathok.

Ngy đầu tin, Tcheuying Rangdrol chắp tay trước ngực xướng ln vi tiết trong gio l, sau đ th lập lại thật chậm ri ba lần cu thứ nhất như sau:

"Thật đng tiếc,

Quả rất kh để c thể kết hợp giữa cc thể dạng tự do v sự rng buộc của cc điều kiện,

Cần thiết cho sự hiển lộ của Gic ngộ."

Thế rồi nước mắt tun tro xuống hai m của ng. Patrul Rinpoch cũng bật khc theo v sau đ Tcheuying Rangdrol giữ yn lặng một lc lu v buổi giảng chấm dứt.

Sang hm sau, Tcheuying Rangdrol lại tiếp tục giảng dạy theo cch đ, ng khng phn tch văn bản m đi thẳng vo kinh nghiệm do chnh ng đ đạt được. Sau đy l cu ng xướng ln:

"Sự sống của chng sinh đổ xuống như một thc nước trn đỉnh ni!"

ng chắp hay tay trước ngực v khc, ng giữ yn lặng một lc rồi lại xướng ln:

"Phải coi trọng những điều kiện thuận lợi đang c v sự tự do m mnh đang được hưởng.

Đừng phung ph một cch v ch cuộc sống ny!"

Nhn thấy thế Pma Dorj nghĩ rằng: "Thật hết sức lạ lng! Một vị Thầy như Patrul Rinpoch đ thấu triệt ton thể cc gio l m lại thn hnh đến đy để tiếp nhận một sự giảng dạy sơ đẳng đến thế ! Thế nhưng chỉ cần đơn giản nhắc đến sự hiếm hoi được lm thn con người m cả Thầy lẫn tr phải m nhau m khc. Thật ti chẳng hiểu g cả".  

(Trong buổi thuyết giảng đầu tin, Cheuying Randrol nu ln sự kh khăn trong việc tu tập khi phải mang thn xc tri buộc của con người, thế nhưng lm con người l một điều kiện cần thiết để tu tập, lời thuyết giảng ấy đ lm cho ng động lng trắc ẩn đối với chng sinh v bật khc. Patrul Rinpoch cảm nhận được những xc cảm từ bi ấy trong lng của Cheuying Randrol nn cũng khc theo. Hm sau Cheuying Randrol nu ln số phận của chng sinh cng sự hiếm hoi v qu bu được lm thn con người. Niềm hn hoan đ, sự gic ngộ đ đ lm cho ng lại bật khc. Patrul Rinpoch bất chợt cũng cảm nhận được sự hiếm hoi v qu gi ấy khi được lm thn con người để tu tập, khiến ng cũng khc theo. Lng từ bi v sự gic ngộ trong lng hai ng tương tợ như những dy đn căng thẳng trong yn lặng, chỉ cần một lời giảng xướng ln chạm nhẹ vo dy đn cũng khiến cho những giọt nước mắt tro ra. Hai vị đại sư khng đủ sức kiềm chế lng từ bi v sự gic ngộ bng ln thật mnh liệt trong lng mnh nn đ m nhau m khc).

 

Bures-Sur-Yvette, 04.11.10

Hoang Phong chuyển ngữ

 

 

Thư Tịch:

 

1- Nagarjuna, "L thư viết cho một người bạn", "Shes pa'a spring yig", tiết 55.

2- Tiết thơ ny được trch dẫn trong rất nhiều kinh sch Ty tạng.

3- Trch trong "Một trăm lời khuyn của Padampa Sangy", Padmakara, 2003, lời bnh của tiết thơ 33.

4- Do Schechen Gyaltsap trch dẫn trong "Theg pa chen po'i blo sbyong gi man ngag zab don sbrang stsi'i bum  bzang", Vol. 6 (Cha), trong "Colected works of  zhe chen rgyal tshab padma rnam rgyal", nh xuất bản Shechen Publications, New Delhi, 1975-1985.

5- Đ trch dẫn (op. cit.) ghi ch 4, tr. 73.

6- Trch trong tập "Byang chub kyi sems bsgom pa'i rim pa bdag 'dzin 'dzoms pa'i sman chen" trong "Collected works of zhe chen rgyal tshab padma rnam rgyal", đ trch dẫn (op. cit.)  ghi ch 5, Vol.5, tr. 41-56.

7- Trch trong tập "Chants de la vision pure, une anthologie de la posie mystique tibtaine" ("Những bi ht về sự qun thấy tinh khiết, hợp tuyển thi tập thần b Ty tạng"), do Thupten Jinpa tuyển chọn v dịch thuật, Cathrine Saint-Guily chuyển ngữ tiếng Php, ditions Kunchap, 2004, tr.51.

8- Tennyi Lingpa, Pma Tswang Gyalpo (bstan gnyis gling pa padma tshe dbang rgyal po, 1080-1535). Tuyển tập Kungzang Nyingthig (kun bzang snying thig), trch dẫn trong "gter gsar rdzogs chen gyi khrid, yig ma rig mun sel ye shes sgron me de" của Chgyal Ngakyi Wangpo, Ngawang Dargy (chos rgyal ngag gi dbang po ngagdbang darr gyas, 1736-1807), Paro, Ngodrup Lama and Sherab Demy, 1979, tr. 53-63.

9- Đức Phật Thch-Ca Mu-ni, Udanavarga (Ched du mjod pa'i mtshoms) (Tự Thuyết Kinh hay Ưu-đ-na Kinh), trong tập cc tiết kinh do Dharmatrata (Đạt-ma Đa-la, đầu thế kỷ thứ IV) kết tập.

10- Đạt-lai Lạt-ma thứ VII, Kelzang Gyatso (Skal bzang rgya mtsho, 1708-1757), theo bản dịch tiếng Anh của  Glenn Mullin, "Songs of Spiritual  Change" ("Những bi ht của sự biến đổi Tm linh"), Ithaca,  Snow Lion Publications, 1982, tr.46.

11- Gyalwa Godrakpa (ko-brag-pa bsod nams rgyal mathan, 1170-1249). Dịch từ văn bản Ty tạng trong : Cyrus Stearns, Hermit of Go Cliffs : Timeless Instructions of a Tibetan Mystic, Wisdom Publications, Boston, 2000, tr. 303.

12- Gampopa Sonam Rinchen (sgam pa pa dwags po lha rje bsod nams rin chen, 1079-1153), do Dilgo Khyents Rinpoch kể lại bằng cch truyền khẩu.

13- Jetsn Milarpa (rje btsun mi la ras pa, 1040-1123) trch từ tập "Cent mille Chants" ("Thập Vạn Ca") ("mi la'i mgur 'bum"), do Tsang Nyn Heruka xuất bản (gtsang smyon he ru ka rus pa'i rgyan can, 1452-1507), Gangtok, Sherab Gyaltshen, 1983.

14- "Le Trsor de prcieuses qualits"("Kho tng những phẩm tnh qu bu") ("Yon tan rin po che'i mdszod") của Jigm Lingpa, do Kangyour Rinpoch, Longchen Ysh bnh giảng, ditions Padmakara, 2010, tr.42.

15- Trch từ tập "Accords sur l'abscence de complications", trong "Chants de la vision pure, une anthologie de la posie mystique Tibtaine", do Thubten Jinpa tuyển chọn, Cathrine Saint-Guily chuyển ngữ tiếng Php, 2004, tr. 47.

16- Do Nyosbul Khen Rinpoch, Jamyang Dordj (amyo shul mkhan po 'jam dbyangs rdo rje, 1932-1999) trực tiếp kể lại cho tc giả Matthieu Ricard.

 

 

 


Bi vở đng gp xin gửi về: baivochanhphap@gmail.com
Copyright 2009 Chanh Phap Newspaper
Last modified: 05/05/11